Bản đồ - Sân bay Rzeszów-Jasionka (RzeszwJasionka Airport)

Thế giới >  Châu Âu >  Ba Lan >  Podkarpackie >  Rzeszowski >  Gmina Trzebownisko >  Sân bay Rzeszów-Jasionka

Sân bay Rzeszów-Jasionka (RzeszwJasionka Airport)

Sân bay Rzeszów-Jasionka là một sân bay quốc tế ở đông nam Ba Lan, tại Jasionka, một làng cách trung tâm thành phố Rzeszów 10 km. Đây là sân bay tấp nập thứ 7 ở Ba Lan, phục vụ các tuyến bay xuyên Đại Tây Dương.

Sân bay Rzeszów-Jasionka có đường băng dài thứ nhì trong các sân bay ở Ba Lan, dài 3200 mét rộng 45 mét. Trong giai đoạn 2005-2007, sân bay này đạt mức tăng trưởng lần 32,54%, 126,16% và 30,53% đối với lượng khách thông qua, đạt 274.272 lượt khách trong năm 2007. .

Từ tháng 1 năm 2008, sân bay này có tuyến bay quốc tế nối với Dublin và London-Stansted, ngoài tuyến nối với Warsawa. Ngày 2 tháng 6 năm 2007, LOT Polish Airlines bắt đầu phục vụ bay theo mùa bằng máy bay Boeing 767 nối với Sân bay quốc tế John F. Kennedy của Thành phố New York và Sân bay quốc tế Newark Liberty của Newark.

 
 IATA Code RZE  ICAO Code EPRZ  FAA Code
 Điện thoại +48 (17) 852 00 81  Fax +48 (17) 852 07 09  Thư điện tử
 Home Page Siêu liên kết  Facebook  Twitter

Bản đồ - Sân bay Rzeszów-Jasionka (RzeszwJasionka Airport)

Vĩ độ / Kinh độ : 50° 6' 36" N / 22° 1' 8" E | Múi giờ : UTC+1:0 / UTC+2 | Tiền tệ : PLN | Điện thoại : 48  
Bản đồ - Sân bay Rzeszów-Jasionka (RzeszwJasionka Airport)  

Photograph

Sân bay Rzeszów-Jasionka
Sân bay Rzeszów-Jasionka
Sân bay Rzeszów-Jasionka
Sân bay Rzeszów-Jasionka
1 

Quốc gia - Ba Lan

Quốc kỳ Ba Lan
Ba Lan (tiếng Ba Lan: Polska), quốc danh hiện tại là Cộng hòa Ba Lan (Rzeczpospolita Polska) là một quốc gia ở Trung Âu, tiếp giáp với các nước Đức, Slovakia, Séc, Ukraina, Belarus, Litva, Nga và biển Baltic; diện tích 312.685 km², dân số 38,56 triệu gần như thuần chủng , đa phần (95%) theo đạo Công giáo Rôma được truyền bá vào đây khi nhà nước Ba Lan đầu tiên hình thành vào thế kỷ thứ 10. Lãnh thổ Ba Lan trong lịch sử có nhiều thay đổi, biên giới hiện nay có từ sau Thế chiến thứ hai theo Thoả thuận Yalta.

Quốc gia Ba Lan được thành lập từ hơn 1.000 năm trước và đạt tới thời kỳ hoàng kim ở gần cuối thế kỷ 16 dưới thời Triều đại Jagiellonia, khi Ba Lan là một trong những nước lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất Châu Âu. Năm 1791, hạ viện của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva chấp nhận Hiến pháp mùng 3 tháng 5, hiến pháp hiện đại đầu tiên của Châu Âu và thứ hai trên thế giới sau Hiến pháp Hoa Kỳ. Ngay sau đó, nước này dừng tồn tại sau khi bị phân chia bởi các nước láng giềng là Nga, Áo và Phổ. Ba Lan giành lại độc lập năm 1918 sau Thế chiến thứ nhất với tư cách Nền Cộng hoà Ba Lan thứ hai. Sau Thế chiến thứ hai nước này trở thành một quốc gia vệ tinh cộng sản của Liên bang xô viết với cái tên Cộng hòa Nhân dân Ba Lan. Năm 1989 cuộc bầu cử bán tự do đầu tiên tại Ba Lan thời hậu chiến đã chấm dứt cuộc đấu tranh giành tự do của Công đoàn Đoàn Kết (Solidarność) khi phong trào này đánh bại những người cầm quyền cộng sản. Nền Cộng hoà Ba Lan thứ ba hiện tại đã được thành lập vài năm sau khi một hiến pháp mới ra đời năm 1997. Năm 1999 gia nhập NATO, và năm 2004 tham gia vào Liên minh châu Âu.
Tiền tệ / Ngôn ngữ  
ISO Tiền tệ Biểu tượng Significant Figures
PLN Złoty Ba Lan (Polish z?oty) 2
ISO Ngôn ngữ
PL Tiếng Ba Lan (Polish language)
Bản đồ  
Neighbourhood - Quốc gia  
  •  Belarus 
  •  Cộng hòa Séc 
  •  Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Ukraina 
  •  Litva 
  •  Nga 
  •  Slovakia 
  •  Đức 

Facebook

 mapnall@gmail.com